Câu hỏi thường gặp
Một số vấn đề cơ bản liên quan tới công tác truy nã tội phạm

 
        1.    Đối tượng truy nã (ĐTTN):
•    Bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu.
•    Người bị kết án trục xuất, người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn.
•    Người bị kết án phạt tù bỏ trốn.
•    Người bị kết án tử hình bỏ trốn.
•    Người đang chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án bỏ trốn.


         2.    Quyết định truy nã (QĐTN) là văn bản pháp lý trong hoạt động Tố tụng Hình sự (TTHS) do cơ quan có thẩm quyền ban hành, được áp dụng đối với những đối tượng nêu ở mục 1.
        Trong thời gian 24h từ khi xác định đối tượng bỏ trốn hoặc không xác định được đối tượng đang ở đâu, cơ quan có thẩm quyền có đối tượng bỏ trốn phải ra QĐTN và nhanh chóng gửi đến cơ quan công an các cấp nơi đối tượng có thể ẩn náu hoặc lẩn trốn để truy bắt.
        QĐTN được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết ở những nơi công cộng để mọi người biết, phát hiện, tố giác và bắt giữ đối tượng.
        QĐTN của cơ quan có thẩm quyền các cấp có giá trị pháp lý như nhau.


          3.    Điều kiện ra Quyết định truy nã: 
       a. Cơ quan có thẩm quyền chỉ được ra quyết định truy nã khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Có đủ căn cứ xác định đối tượng quy định tại mục 1 nêu trên đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả;
+ Đã xác định chính xác lý lịch, các đặc điểm để nhận dạng đối tượng bỏ trốn.
       b. Khi có đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu mà trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà không bắt được thì Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã; trường hợp chưa có lệnh bắt bị can; bị cáo để tạm giam thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra ngay quyết định truy nã.


        4.    Quyết định đình nã (QĐĐN) là văn bản pháp lý trong hoạt động TTHS, do cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm thông báo kết thúc việc truy nã đối tượng được quy định trong mục 1 nêu trên.


          5.    Các hình thức truy nã:
       + Truy nã đặc biệt: áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
       + Truy nã thường: áp dụng với người thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng.


         6.    Nguyên tắc của công tác truy nã:
         Việc truy nã phải nhanh chóng, kịp thời và phải đúng người, đúng hành vi phạm tội, bảo đảm tôn trọng quyền tự do, dân chủ của công dân theo quy định của pháp luật.
Nghiêm cấm ra quyết định truy nã trái với quy định của pháp luật và hướng dẫn của Thông tư 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09 tháng 10 năm 2012.


         7.    Giải quyết khi ĐTTN ra đầu thú:
       a. Khi có người bị truy nã đến đầu thú thì các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội báo ngay cho cơ quan Công an nơi gần nhất biết để cử người đến tiếp nhận và lập biên bản về việc người bị truy nã ra đầu thú. Trường hợp người bị truy nã ra đầu thú tại cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân các cấp thì các cơ quan này phải lập biên bản về việc người bị truy nã ra đầu thú và giải ngay người đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
        b. Khi tiếp nhận người bị truy nã ra đầu thú, Cơ quan điều tra phải lập biên bản về việc người bị truy nã ra đầu thú (nếu cơ quan bàn giao chưa lập biên bản) và lấy lời khai về hành vi phạm tội, quá trình trốn, lý do đầu thú và những vấn đề khác có liên quan.
        c. Người phạm tội bị truy nã ra đầu thú được xem xét là một tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. 
        d. Người có quyết định thi hành án phạt tù bỏ trốn bị truy nã ra đầu thú nhưng đang bị bệnh hiểm nghèo (có kết luận của Hội đồng y khoa Bệnh viện cấp tỉnh trở lên), phụ nữ có thai (có xác nhận của Bệnh viện đa khoa cấp huyện trở lên), người đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người lao động duy nhất trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương) nếu phải chấp hành án phạt tù thì gia đình sẽ lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thì Tòa án có thể cho tạm hoãn chấp hành án phạt tù theo quy định tại Điều 61 Bộ luật hình sự.


        8.    Chính sách của Nhà nước đối với người có hành vi phạm tội ra tự thú, đầu thú.    
       Công văn số 81/2002/TANDTC về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ đã nêu rõ: “Tự thú” là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. “Đầu thú” là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy “tự thú” và “đầu thú” chỉ khác nhau ở chỗ: Tự thú là chưa ai biết mình phạm tội, còn đầu thú là đã có người biết mình phạm tội.
       Theo Khoản 1, Điều 46 BLHS 1999 thì việc  “tự thú” được xem là một tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt của Tòa án.
      Theo Khoản 3, Điều 16 của Thông tư liên tịch Số: 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC về hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ Luật TTHS và Luật Thi hành án hình sự về Truy nã được ban hành  ngày 09/10/2012 thì người phạm tội bị truy nã ra đầu thú thì được xem xét là một tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
       Như vậy, việc “đầu thú” chỉ được áp dụng theo Khoản 2, Điều 46 BLHS 1999, tòa án sẽ căn cứ vào tính chất và mức độ của hành vi đầu thú để xem xét đây có được coi là tình tiết giảm nhẹ hay không, điều này tùy thuộc hậu quả tác hại do hành vi phạm tội gây ra, người phạm tội đầu thú sớm hay muộn, người phạm tội có thành khẩn khai báo rõ sự việc không, lời khai góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm hay không….


         9.     Cung cấp thông tin liên quan đến ĐTTN:
        Công tác phát hiện, truy bắt đối tượng truy nã rất cần đến sự phối hợp, giúp đỡ của các cơ quan ban, ngành, đoàn thể và nhất là quần chúng nhân dân. Đối tượng truy nã là những người đang trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật vì vậy khi người dân có nghi ngờ hoặc phát hiện đối tượng truy nã có thể vào mục Hộp thư – Tin báo tại trang Thông tin Truy nã – Truy tìm để cung cấp thông tin hoặc liên hệ trực tiếp Cục Cảnh sát Truy nã tội phạm, địa chỉ 47 Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội. Điện thoại đường dây nóng: 069.21667 - 0946.314.429.


         10.    Người có quyết định (lệnh) truy nã của cơ quan Công an ra đầu thú:
         Người phạm tội có thể ra đầu thú, tự thú tại bất kỳ cơ quan Công an nào trên toàn quốc, tại cơ quan Cảnh sát điều tra nơi ra quyết định (lệnh) truy nã, hoặc đến Cục Cảnh sát truy nã tội phạm số 47 Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, số điện thoại 069.23.21667 - 0946.314.429./.

Thông tin
 
 
Trang thông tin truy nã cung cấp thông tin về những đối tượng đã bị các cơ quan Công an ra quyết định truy nã. Các thông tin này liên tục được cập nhật.
- Mọi công dân khi phát hiện đối tượng truy nã hoặc biết thông tin có liên quan về đối tượng thì báo ngay cho Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra –Bộ Công an:
- Địa chỉ phí Bắc:

+ 497 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội; SĐT: 069 234 5860.

+ 47 Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội; SĐT: 069 232 1667.
- Địa chỉ phía Nam: 258 Nguyễn Trãi, Q1, TP.HCM; SĐT: 069 333 6809

 

 

Phóng sự truy nã